Beedemy Vào trang học

Lớp 12 · Toán 12 Kết nối tri thức · Công thức xác suất toàn phần và công thức Bayes · Bài tập nâng cao

Bài tập nâng cao · Bài 12

TÓM TẮT KIẾN THỨC Xét một phép thử $ T $ có không gian mẫu $ Ω $ và hai biến cố $ A,B $. Ta có công thức xác suất toàn phần như sau $ P(B)=P(A∩B)+P( \bar A∩B)=P(A)\cdot P(B\mid A)+P( \bar A)\cdot P(B\mid \bar A) $ Nếu có thêm giả thiết $ P(B)>0 $ thì ta có công thức Bayes sau đây: $ P(A\mid B)=\frac { P(A)\cdot P(B\mid A) } { P(A)\cdot P(B\mid A)+P( \bar A)\cdot P(B\mid \bar A) }=\frac { P(A)\cdot P(B\mid A) } { P(B) } $ Các biến cố $ A_{ 1 } ,A_{ 2 } ,…,A_{ n } (n\in \mathbb{N},n\geq 2) $ được gọi là một nhóm đầy đủ nếu chúng đôi một xung khắc (tức là $ A_{ i } ∩A_{ j } =∅,∀i\neq j $) và đồng thời $ A_{ 1 } ∪A_{ 2 } ∪…∪A_{ n } =Ω $. Hai biến cố $ A $ và $ \bar A $ luôn tạo thành một nhóm đầy đủ. Hiển nhiên $ ∅ $ và $ Ω $ cũng tạo thành một nhóm đầy đủ, được gọi là nhóm đầy đủ tầm thường. Với một nhóm đầy đủ $ A_{ 1 } ,A_{ 2 } ,A_{ 3 } ,…,A_{ n } $ và biến cố $ B $ ta luôn có $B=\bigcup_{k=1}^{n}(B\cap A_k)$ nên $ P(B)=\sum \limits_{ k=1 } ^ n { P }\left ( { B∩A_{ k } } \right ) $ (do các biến cố $ B∩A_{ 1 } ,…,B∩A_{ n } $ đôi một xung khắc). Áp dụng công thức nhân ta được $ P(B)=\sum \limits_{ k=1 } ^ n { P }\left ( { A_{ k } } \right )P\left ( { B\mid A_{ k } } \right ) $. Đây chính là công thức xác suất toàn phần (hay công thức xác suất đầy đủ) cho trường hợp tổng quát. Công thức xác suất toàn phần ta nêu ở đầu mục này chính là trường hợp $ n=2 $. Đến đây ta cũng thiết lập được công thức Bayes cho trường hợp tổng quát như sau (với giả thiết $ P(B)>0 $): $ P\left ( { A_{ i } \mid B } \right )=\frac { P\left ( { A_{ i } } \right )\cdot P\left ( { B\mid A_{ i } } \right ) } { P(B) }=\frac { P\left ( { A_{ i } } \right )\cdot P\left ( { B\mid A_{ i } } \right ) } { \sum \limits_{ k=1 } ^ n { P }\left ( { A_{ k } } \right )P\left ( { B\mid A_{ k } } \right ) };i=1,2,…,n $ Công thức Bayes giúp ta tính các xác suất $ P\left ( { A_{ i } \mid B } \right ) $ trong khi đã biết $ P\left ( { A_{ i } } \right ) $. Xác suất $ P\left ( { A_{ i } } \right ) $ được xác định từ trước nên thường được gọi là xác suất tiên nghiệm, còn xác suất $ P\left ( { A_{ i } \mid B } \right ) $ được xác định sau khi đã có kết quả thí nghiệm nào đó thể hiện qua sự xuất hiện của $ B $ nên được gọi là xác suất hậu nghiệm. Ý nghĩa của công thức Bayes: Một nhà nghiên cứu quan tâm đến xác suất xảy ra của biến cố $ A_{ i } $ và tính được xác suất $ P\left ( { A_{ i } } \right ) $. Sau đó, nhà nghiên cứu biết được thông tin rằng biến cố $ B $ đã xảy ra. Với thông tin mới này, nhà nghiên cứu sẽ cập nhật lại hiểu biết của mình về khả năng xảy ra của biến cố $ A_{ i } $ bằng cách tính xác suất $ P\left ( { A_{ i } \mid B } \right ) $ là xác suất xảy ra biến cố $ A_{ i } $ khi biến cố $ B $ đã xảy ra.

Bài tập nâng cao Công thức xác suất toàn phần và công thức Bayes · Bài 12

Một bệnh nhân bị nghi là có thể mắc một trong ba bệnh $ A,B,C $ với xác suất tương ứng $ 30\%;40\%;30\% $. Người đó đến khám bệnh tại bốn cơ sở y tế độc lập và được chẩn đoán lần lượt là bệnh $ A,B,C,A $ với xác suất chẩn đoán đúng của mỗi cơ sở y tế đều là 0,6 ; xác suất chẩn đoán nhầm sang các loại bệnh còn lại đều là 0,2. Hỏi sau khi khám bệnh xong, bệnh nhân đó cần đánh giá lại xác suất mắc các bệnh $ A,B,C $ của mình là bao nhiêu?
Xem lời giải

Lời giải

Ta gọi $ A,B,C $ lần lượt là các biến cố: "Bệnh nhân mắc bệnh $ A,B,C $ tương ứng". Theo giả thiết thì $ P(A)=0,3;P(B)=0,4;P(C)=0,3 $. Gọi $ H $ là biến cố: "Bốn cơ sở y tế chẩn đoán bệnh nhân đó mắc bệnh lần lượt là $ A,B,C,A $ ". Vì xác suất chẩn đoán đúng của mỗi cơ sở y tế đều là 0,6 ; xác suất chẩn đoán nhầm sang các loại bệnh còn lại đều là 0,2 nên ta có
$ P(H\mid A)=0,6\cdot 0,2\cdot 0,2\cdot 0,6=0,0144; \\ P(H\mid B)=0,2\cdot 0,6\cdot 0,2\cdot 0,2=0,0048 \\ P(H\mid C)=0,2\cdot 0,2\cdot 0,6\cdot 0,2=0,0048 $
Áp dụng công thức xác suất toàn phần, ta tính được
$ P(H)=P(A)\cdot P(H\mid A)+P(B)\cdot P(H\mid B)+P(C)\cdot P(H\mid C) \\ =0,3\cdot 0,0144+0,4\cdot 0,0048+0,3\cdot 0,0048=0,00768 $
Theo công thức Bayes, ta có $ P(A\mid H)=\frac { P(A)\cdot P(H\mid A) } { P(H) }=\frac { 0,3\cdot 0,0144 } { 0,00768 }=56,25\% $;
$ P(B\mid H)=\frac { P(B)\cdot P(H\mid B) } { P(H) }=\frac { 0,4\cdot 0,0048 } { 0,00768 }=25\% \\ P(C\mid H)=\frac { P(C)\cdot P(H\mid C) } { P(H) }=\frac { 0,3\cdot 0,0048 } { 0,00768 }=18,75\% $
Vậy sau khi khám bệnh xong, bệnh nhân đó có thể thấy xác suất mắc các bệnh $ A,B,C $ của mình lần lượt khoảng $ 56,25\%;25\%;18,75\% $.
Luyện câu này Xem tất cả bài tập nâng cao